Thực trạng về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bến Tre
Cập nhật: 01/03/2018

Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng giành chiến thắng giữa các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùng quan tâm tới một đối tượng. Trên giác độ kinh tế, năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm.  

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua năng lực về tài chính, trình độ công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực điều hành và quản lý doanh nghiệp, hoạt động nghiên cứu thị trường, chiến lược phát triển sản phẩm, chiến lược phân phối và chiến lược quảng cáo thương hiệu sản phẩm trên thị trường.

Đa phần các doanh nghiệp của tỉnh Bến Tre đang hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cần thiết, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Về trình độ công nghệ: Trong những năm qua, mặc dù nhiều doanh nghiệp đã đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ từ các nước công nghiệp phát triển nhưng tốc độ đổi mới công nghệ, trang thiết bị còn chậm, chưa đồng đều và chưa theo một định hướng phát triển rõ rệt.

Về nhân lực trong các doanh nghiệp: Lao động là một lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp bởi chi phí lao động rẻ, tuy nhiên, năng suất lao động chỉ ở mức thấp, chủ yếu là lao động thủ công, tác phong lao động công nghiệp chưa cao. Vấn đề được đặt ra là cần sớm khắc phục tình trạng này để lao động trong các doanh nghiệp được đào tạo tay nghề, có năng suất cao để lao động thực sự trở thành một lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước, ngoài nước.

Về năng lực quản lý và điều hành của doanh nghiệp: Trình độ cán bộ quản lý của một số doanh nghiệp nhỏ cũng còn hạn chế, nhất là hạn chế trong tiếp cận với những kiến thức, phong cách quản lý hiện đại, đặc biệt kinh nghiệm giao dịch xuất nhập khẩu, nghiên cứu tiếp cận với thị trường thế giới của cán bộ còn thấp.

Về hoạt động nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu: Công tác nghiên cứu thị trường của một số doanh nghiệp cũng còn hạn chế, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào thị trường truyền thống, nhiều thị trường tiềm năng chưa được khai thác, khả năng vươn ra tiếp cận thị trường nước ngoài cũng còn yếu. Hoạt động nghiên cứu thị trường của một số doanh nghiệp chưa được tổ chức một cách khoa học, còn nhiều hạn chế trong việc sử dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu thị trường, dẫn đến tình trạng đa số các doanh nghiệp kinh doanh thụ động chủ yếu dưa vào kinh nghiệm.

Về chiến lược sản phẩm: Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, các doanh nghiệp đã quan tâm đến chất lượng sản phẩm và xây dựng chiến lược sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thị trường. Tuy nhiên một số sản phẩm của doanh nghiệp có hàm lượng công nghệ chưa cao (thạch dừa thô, chỉ xơ dừa, than thiêu kết,,,). hàng thủ công mỹ nghệ chưa có đội ngũ thiết kế chuyên nghiệp để thiết kế ra nhiều kiểu dáng mới, phần lớn các sản phẩm thủ công mỹ nghệ chưa có tính độc đáo, luôn đi sau các nước khác về kiểu dáng, tính năng, giá trị gia tăng sản phẩm, chất lượng sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thời gian qua hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường trong nước. Hàng may mặc chủ yếu gia công cho thị trường ngoài nước. Việc xây dựng kế hoạch kinh doanh cũng như kế hoạch giá thành của các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự biến động giá cả nguyên liệu nhập khẩu, tỷ giá hối đoái... do nguyên vật liệu nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm.

Về chiến lược phân phối: Một số doanh nghiệp có quy mô nhỏ chưa quan tâm đúng mức đến việc thiết lập hệ thống kênh phân phối hàng hóa đến đại lý hoặc người tiêu dùng cuối cùng, phần lớn vẫn áp dụng hình thức các kênh phân phối qua các trung gian thương mại do đó chưa  kiểm soát được quá trình phân phối và tiêu thụ sản phẩm, chưa nắm bắt trực tiếp những thông tin phản ánh tình hình thị trường từ khách hàng.

Về chiến lược quảng cáo: Nhiều doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc in ấn và phát hành các tờ rơi giới thiệu về doanh nghiệp. Chi phí dành cho quảng cáo còn quá thấp. Chất lượng quảng cáo chưa cao do thiếu chuyên gia trong lĩnh vực này. Hình thức quảng cáo của các doanh nghiệp vẫn chủ yếu là xuất bản các tập catalogue, brochure với nội dung đơn điệu. Việc quảng cáo thông qua các Công ty quảng cáo ở nước ngoài hầu như không được các doanh nghiệp sử dụng do chưa đủ khả năng tài chính.

Từ những hạn chế về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong thời gian tới góc độ cơ quan nhà nước cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ngân hàng với lãi suất ưu đãi, áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến ra sản phẩm mới, cải tiến bao bì, nhãn hiệu, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và công tác xúc tiến thương mại để tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh./.

Nguồn: SCT